TỪ KHÓA  
 
TÌM KIẾM
ĐIỀU TRỊ HIẾM MUỘN
Các biến chứng trong điều trị hiếm muộn

Trong quá trình điều trị hiếm muộn, cũng có thể xảy ra một số biến chứng từ nhẹ đến nặng, thậm chí tử vong. Tuy nhiên, do tay nghề và kiến thức người thầy thuốc ngày càng nâng cao, nên hiện nay các biến chứng không còn xảy ra nhiều như trước, đồng thời cũng không còn gặp các trường hợp tử vong nào trong nhiều năm qua. Nhìn chung, các biến chứng có thể gặp bao gồm:

Hội chứng quá kích buồng trứng

§    Biến chứng này có liên quan đến quá trình kích thích buồng trứng (quá trình này dùng thuốc để kích thích phát triển nhiều nang noãn cùng một lúc ở buồng trứng). Buồng trứng bị kích thích quá mức sẽ gây ra hàng loạt các triệu chứng gọi là hội chứng quá kích buồng trứng.

§    Có sự tích tụ dịch trong ổ bụng và sự to ra nhanh chóng của buồng trứng.

§    Nguyên nhân và cơ chế gây ra hội chứng này vẫn còn nhiều tranh cãi.

§    Tần suất xảy ra khoảng 25-33%, thường ở mức độ nhẹ, trong khi mức độ vừa hoặc nặng chỉ xảy ra dưới 5%.

§    Những phụ nữ sau dễ có nguy cơ quá kích buồng trứng:

Ø Dưới 30 tuổi

Ø Có buồng trứng đa nang.

Ø Có dùng thuốc GnRH đồng vận.

Ø Số nang noãn trên siêu âm nhiều (15-20) kích thước trung bình và nhỏ (12-14mm) ở cả 2 buồng trứng.

Ø Có dùng hCG trong phác đồ kích thích.

Ø Có tiền căn quá kích buồng trứng ở chu kỳ trước, tuy nhiên đáp ứng thuốc có thể thay đổi tùy theo chu kỳ.

§    Các dấu hiệu thường gặp: bụng căng đau, buồn nôn hoặc nôn, khó thở…

 §    Nên đến bác sĩ khám để được chẩn đoán, theo dõi và điều trị thích hợp.

§    Xử trí

Ø  Mức độ nhẹ: có thể điều trị tại nhà, dùng thuốc giảm đau, uống nhiều nước (ít nhất 2 lít nước một ngày), ăn nhiều chất đạm. Bệnh nhân thường tự hồi phục và khỏi trong vài ngày.

Ø Mức độ vừa hoặc nặng: cần nhập viện để được truyền dịch, truyền đạm và theo dõi diễn tiến của hội chứng. Bác sĩ có thể chọc hút dịch để giải áp và giúp bệnh nhân dễ chịu hơn. Đa số trường hợp sẽ hồi phục từ 7-10 ngày. Trường hợp nặng có thể kéo dài hơn.

§    Biện pháp đề phòng:

Ø Dùng thuốc liều thấp ở những phụ nữ có nguy cơ quá kích buồng trứng.

Ø Uống nhiều nước (2-3 lít) mỗi ngày. Chế độ dinh dưỡng đầy đủ.

Ø Không chuyển phôi. Phôi sẽ được trữ lạnh toàn bộ. Sau đó, bệnh nhân sẽ được uống thuốc để chẩun bị nội mạc tử cung và rã đông phôi để chuyển phôi vào chu kỳ sau.

Ø Truyền albumin

Ø Uống dopamine agonist (Parlodel)

Chảy máu âm đạo

§    Tần suất 0,09 – 1,3%. Xảy ra do chọc kim qua cùng đồ âm đạo để chọc hút trứng.

§    Phần lớn chảy máu tự cầm sau khi hoàn tất việc chọc hút trứng.

§    Nếu máu không cầm máu, bác sĩ có thể may cầm máu.

Xuất huyết nội

§    Rất hiếm gặp (khoảng 0,2-0,3%). Nguyên nhân do khi chọc hút trứng, kim chọc hút đâm trúng mạch máu vùng chậu hoặc trúng hệ thống mạch máu xung quanh buồng trứng.

§    Đa số các trường hợp, có thể tự cầm máu sau chọc hút. Một số trường hợp, buồng trứng không tự cầm máu được, bác sĩ sẽ theo dõi và quyết định mổ cầm máu nếu cần thiết.

§    Có một hoặc nhiều các dấu hiệu sau: mệt mỏi, chóng mặt, khó thở, mạch nhanh….

§    Cần nhập viện để theo dõi.

Viêm vùng chậu

§    Biến chứng hiếm gặp (0,2 – 0,3%). Nguyên nhân nhiễm trùng có thể do có sẵn, tiềm ẩn ở vùng chậu trước đó hoặc ngược dòng từ dưới âm đạo lên.

§    Có thể có 1 hoặc nhiều dấu chứng sau đây: đau bụng dưới liên tục, tiểu ít, sốt hơn 380C trong hơn 2 ngày..v..v..

§    Nên nhập viện theo dõi.

§    Đa số chỉ cần điều trị kháng sinh.

Đa thai

§    Để tăng khả năng có thai cho bệnh nhân, tại Việt Nam hiện nay, bác sĩ thường chuyển vào buồng tử cung từ 2-4 phôi tùy thuộc vào tuổi, số chu kỳ điều trị và chất lượng phôi (khả năng đậu thai của một phôi từ 10-20%). Do đó, bệnh nhân có thể có nhiều hơn 1 thai (song thai, tam thai hoặc tứ thai). Tỉ lệ đa thai nói chung vào khoản 20-30% các trường hợp có thai. Trong đó, chủ yếu là song thai. Các trường hợp tam thai trở lên thường dưới 5%.

§    Đa thai thường dẫn đến sinh non, do vậy, các trường hợp có 3 thai trở lên nên làm kỹ thuật giảm thai (khi tuổi thai 7-8 tuần), để lại 1 hoặc 2 thai.

Thai ngoài tử cung (TNTC)

§    Là tình trạng thai không làm tổ trong buồng tử cung như bình thường.

§    TNTC thường xảy ra ở vòi trứng.

§    Tần suất xảy ra TNTC sau thụ tinh trong ống nghiệm là khoảng 2-3%.

§    Triệu chứng: đau bụng dưới âm ỉ, ra huyết âm đạo..v..v… Khi có các dấu hiệu này, cần đến bác sĩ để được tư vấn, thăm khám và chẩn đoán. Kết quả thử máu thường thấp và tăng chậm. Siêu âm không thấy thai trong lòng tử cung.

§    Khi đã chẩn đoán xác định thai ngoài tử cung hoặc chưa thể loại trừ thai ngoài tử cung, bệnh nhân cần nhập viện để được theo dõi và điều trị (thông thường mổ nội soi để giải quyết khối thai ngoài).

§    Nếu không mổ kịp thời để lấy khối thai lạc chỗ, thai có thể sẽ vỡ và gây chảy máu trong ổ bụng nguy hiểm.

THÔNG TIN LIÊN QUAN
Ngày:  16/06/2009
   
WEBSITE LIÊN KẾT
 
Copyright @ 2009 by HOSREM
Lượt truy cập: 53958
Phát triển bởi: Nhu Nguyen co.,LTD